Giai phap tiet kiem
Chọn năm phát hành:
Chọn số báo
Thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới: một năm nhìn lại
Cập nhật: 19-1-2023

Thị trường hàng hóa được xem là loại tài sản hoạt động tốt nhất vào năm 2022.

Trong năm vừa qua, giá than đá và khí đốt tự nhiên tăng mạnh do cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn cầu và cuộc chiến tranh ở Ukraine. Dự kiến nguồn cung 2 năng lượng này trong năm 2023 sẽ còn tiếp tục hạn chế, có thể thúc đẩy giá tăng nhiều hơn nữa. Trong khi đó, giá kim loại công nghiệp, quặng sắt và cao su năm 2022 giảm do chính sách Zero Covid hà khắc của Trung Quốc và lo ngại suy thoái kinh tế trên toàn cầu. Giá đồng giảm gần 20% kể từ tháng Ba, mức giảm theo quý mạnh nhất kể từ đầu năm 2020. Giá nickel và kẽm cũng giảm lần lượt 20% và 25%.
Các mặt hàng nông sản, trong đó có ngũ cốc và dầu cọ, đã tăng giá lên mức cao nhất mọi thời đại vào tháng 3/2022 do thời tiết bất lợi và sự gián đoạn nguồn cung kéo dài từ khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù giá đa số nông sản đã giảm trở lại vào 6 tháng cuối năm 2022, song lạm phát giá thực phẩm vẫn chưa kết thúc.
 

Vàng

Giá giảm nhẹ khoảng 1% trong năm 2022, giảm năm thứ hai liên tiếp

Trong năm 2022, vàng thế giới đã chứng kiến ​​mức tăng mạnh 16% từ cuối tháng 1/2022 đến ngày 8/3 sau khi xung đột Nga - Ukraine bùng nổ. Kim loại quý này đã tăng lên 2.070 USD/ounce, gần mức cao nhất mọi thời đại được ghi nhận vào tháng 8/2020. 

Khi Fed đưa ra đợt tăng lãi suất đầu tiên trong năm vào giữa tháng 3 năm 2022, vàng bắt đầu giảm giá. Vàng đã giảm 22% từ mức cao nhất trong tháng 3 xuống mức thấp nhất trong tháng 9 là 1.615/ounce trong bối cảnh đồng USD tăng giá và lợi suất trái phiếu kho bạc tăng. Lập trường chính sách tiền tệ tích cực của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã đè nặng lên nhu cầu đầu tư vào vàng. Sau khi chạm mức “ba đáy” vào ngày 29/9, ngày 21/10 và ngày 3/11, vàng đã bắt đầu phục hồi và có mức tăng 12% cho đến cuối tháng 12. Trải qua một năm nhiều thăng trầm, giá vàng thế giới dao động quanh ngưỡng 1.800 USD/oz trong những ngày cuối của năm 2022.

Như vậy, giá vàng hiện đã tăng gần 200 USD sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong hơn hai năm vào cuối tháng Chín khi các đợt nâng lãi suất liên tiếp của Fed diễn ra. Thị trường kim loại quý thế giới đã kết thúc một năm đầy biến động với mức giảm 5 USD so với mức đầu năm.

Thị trường vàng đã có một kết thúc vững chắc cho năm 2022 và theo các nhà phân tích, động lực tăng giá của nó trong quý 4/2022 sẽ tiếp tục trong năm 2023.

Trong triển vọng năm 2023, các nhà phân tích dự báo giá vàng sẽ vượt trên 1.900 USD/ounce. Các nhà phân tích cho biết, diễn biến của giá vàng trong năm 2023 sẽ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Fed và tác động của nó đối với hướng đi của USD. Với bối cảnh bất ổn gia tăng trong năm tới và Fed ôn hòa hơn, đồng USD sẽ suy yếu và  nhu cầu trú ẩn an toàn đối với vàng sẽ tăng lên.

Hiện tại, các thị trường đang kỳ vọng ngân hàng trung ương Mỹ sẽ tăng lãi suất lên mức cao nhất trong khoảng từ 5% đến 5,25% trong nửa đầu năm 2023.

Theo dữ liệu của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) công bố ngày 1/11/2022, tốc độ mua vào của các ngân hàng trung ương đã đạt mức cao nhất trong 55 năm qua. Chỉ riêng trong quý III các ngân hàng trung ương đã mua vào gần 400 tấn vàng, trị giá khoảng 20 tỷ USD. 

Giới phân tích cho rằng kịch bản tốt nhất đối với giá vàng trong năm 2023 là kinh tế toàn cầu giảm tốc và các ngân hàng trung ương chuyển sang nới lỏng chính sách tiền tệ, đặc biệt là Fed. Sự mở cửa trở lại của Trung Quốc cũng có thể trở thành lợi thế cho giá vàng. Những yếu tố này có thể đưa giá vàng bứt phá qua mốc 2.000 USD/ounce.

Trước đó, ông Juerg Kiener, Giám đốc điều hành kiêm giám đốc đầu tư của Swiss Asia Capital đã đưa ra nhận định giá vàng có thể tăng lên 4.000 USD/ounce vào năm 2023.

Trái lại, kịch bản xấu nhất của giá vàng trong năm 2023 là Fed đi ngược lại kỳ vọng của thị trường, tăng mạnh lãi suất hơn dự báo, và không thực hiện nới lỏng chính sách ngay cả khi suy thoái xảy ra.

Tại Báo cáo Xu hướng nhu cầu vàng mới nhất, các nhà đầu tư cá nhân, vốn là những người luôn nhạy bén với các tín hiệu từ nhiều thị trường khác nhau, vẫn ưu ái vàng vì vàng luôn giữ vị thế là nơi trú ẩn an toàn để bảo toàn giá trị tài sản trong bối cảnh lạm phát tràn lan và sự bất ổn địa chính trị. Các nhà đầu tư đã phòng ngừa lạm phát bằng cách đầu tư vào vàng thỏi và xu vàng, khiến tổng cầu bán lẻ tăng 36% so với cùng kỳ năm trước.

Nhu cầu mua bán và tiêu dùng đồ trang sức tiếp tục phục hồi và hiện đã quay trở lại trạng thái trước đại dịch, đạt 523 tấn - cao hơn 10% so với quý III năm 2021. Phần lớn của sự tăng trưởng này được thúc đẩy bởi người tiêu dùng tại các khu vực độ thị ở Ấn Độ, với số lượng tiêu thụ đạt mức 146 tấn, tăng 17% so với năm ngoái. Mức tăng trưởng ấn tượng tương tự cũng diễn ra ở phần lớn khu vực Trung Đông, với Ả Rập Xê Út tăng 20% kể từ quý III năm 2021 và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất tăng 30% trong cùng kỳ.

Tại Trung Quốc, nhu cầu tiêu thụ đồ trang sức đạt mức tăng trưởng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, do niềm tin của người tiêu dùng đã được cải thiện và giải phóng các nhu cầu bị dồn nén, cũng như sự sụt giảm của giá vàng trong nước vào tháng 7.

Thời gian tới, giới chuyên môn dự đoán hoạt động mua và đầu tư bán lẻ của Ngân hàng Trung ương sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Việc này có thể giúp bù đắp cho sự suy giảm có thể dự đoán trước trong đầu tư trên thị trường chưa niêm yết OTC và quỹ đầu tư ETF nếu đồng USD vẫn tiếp tục tăng giá. Theo đó, kỳ vọng nhu cầu tiêu thụ đồ trang sức tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ ở một số khu vực như Ấn Độ và Đông Nam Á, trong khi nhu cầu vàng trong lĩnh vực công nghệ có thể sẽ tiếp tục suy giảm khi nền kinh tế giảm sút. 

 

 

Kim loại quý

 

Thị trường kim loại quý trở thành điểm sáng đầu tư trong nửa cuối năm 2022 nhờ cả vai trò trú ẩn và tính ứng dụng cao trong công nghiệp

Các phiên giao dịch cuối cùng của năm 2022 đã khép lại, hai mặt hàng bạc và bạch kim thường không nhận được nhiều sự chú ý như các nhóm tài sản tài chính khác như chứng khoán, tiền điện tử, hay dầu thô, tuy nhiên trong các thời điểm then chốt, thị trường bạc và bạch kim vẫn chứng tỏ được khả năng sinh lời hấp dẫn của mình.

Trong sáu tháng cuối năm, giá bạc tăng 12,43% lên 24,19 USD/ounce, còn giá bạch kim cũng tăng 7,43% USD/ounce. Đáng chú ý, mức tăng này vượt trội so với sự tăng giá của đồng USD, hay các loại hàng hóa khác như dầu thô và đồng.

Dù không phải thước đo phản ánh sức khỏe của nền kinh tế trên thế giới, nhưng diễn biến giá của bạc và bạch kim nói lên rất nhiều điều về tâm lý trên thị trường tài chính. Vốn được coi là tài sản trú ẩn, nên việc giá kim loại quý tăng trong khi giá các nguyên liệu sản xuất hàng đầu như dầu thô và đồng giảm, phản ánh những lo ngại về khả năng tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Kể từ thời điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 3 năm nay, giá bạc và bạch kim đã liên tục lao dốc và bắt đầu hồi phục từ mức đáy của tháng 9. Trong giai đoạn này, bất chấp sức ép từ đồng USD, giá kim loại quý vẫn đi lên khi mà những lo ngại về suy thoái kinh tế lấn át những rủi ro khác.

Hiện triển vọng trong giai đoạn tới với nhóm kim loại quý vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các động thái của Fed. Theo công cụ theo dõi lãi suất của CME, xác suất các nhà chức trách tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản hiện đang là 74%, hoàn toàn áp đảo so với kỳ vọng tăng 50 điểm cơ bản.

Bên cạnh nhu cầu đầu tư và trú ẩn, các mặt hàng kim loại quý cũng được quan tâm nhờ tính ứng dụng cao trong các hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là năng lượng xanh. Bạc được ứng dụng rất nhiều để sản xuất pin năng lượng mặt trời, còn 40% nhu cầu tiêu thụ bạch kim mỗi năm được sử dụng để sản xuất xe hơi.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết các nguồn năng lượng tái tạo đang trên đà vượt qua than đá để trở thành nguồn điện hàng đầu thế giới, với mức tăng trưởng công suất được dự báo sẽ tăng gần gấp đôi trong 5 năm tới.

Cơ quan này cũng dự kiến ​​công suất tái tạo của thế giới sẽ tăng khoảng 2.400 Gigawatt (GW) trong giai đoạn 2022 – 2027, tương đương toàn bộ công suất điện lắp đặt của Trung Quốc hiện nay. Tăng trưởng được thúc đẩy bởi các chính sách mở rộng đầy tham vọng tại các thị trường trọng điểm như Mỹ, Trung Quốc, và Liên minh châu Âu (EU).

Các quốc gia trên toàn cầu, đặc biệt là Mỹ, đang tăng cường đầu tư vào năng lượng tái tạo để giảm sự phụ thuộc vào than đá và dầu mỏ trong nỗ lực giảm lượng khí thải carbon và làm chậm quá trình biến đổi khí hậu.

Việc giá điện và nhiên liệu hóa thạch cao do cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu đã làm cho các công nghệ năng lượng tái tạo trở nên hấp dẫn hơn về mặt kinh tế. Bên cạnh đó, xung đột giữa Nga - Ukraine đã khiến các quốc gia ngày càng coi an ninh năng lượng của năng lượng tái tạo.

Theo Metals Focus, nhu cầu bạc toàn cầu tăng 16% lên 1,2 tỷ ounce tính đến giữa tháng 11, khiến cho thị trường bạc vẫn khan hiếm, và ở mức thâm hụt nguồn cung đáng kể nhất trong nhiều thập kỷ trong năm nay. Các nhà phân tích dự báo nguồn cung thiếu hụt khoảng 20% so với nhu cầu tiêu thụ, tương đương mức 6.000 tấn. Nhu cầu bạc trong các ngành công nghiệp đã ở mức kỷ lục vào năm 2022, đạt 15.280 tấn. Với rất nhiều quốc gia tập trung vào an ninh năng lượng, nhu cầu bạc sẽ tăng lên để đáp ứng việc lắp đặt các tấm pin mặt trời. Bên cạnh đó, lĩnh vực ô tô đang tiêu thụ nhiều bạc hơn khi mà hàm lượng bạc trung bình trên mỗi chiếc xe đang tăng lên.

Quá trình mở rộng hạ tầng cho các dự án năng lượng xanh tại Trung Quốc đang bị chậm lại do ảnh hưởng của dịch bệnh, vì thế các động thái nới lỏng hạn chế chống dịch tại Trung Quốc cũng củng cố cho kỳ vọng hồi phục của ngành năng lượng tái tạo trong thời gian tới. Nhu cầu tiêu thụ với bạc và bạch kim trong các hoạt động sản xuất vì thế cũng được kỳ vọng sẽ tăng và củng cố cho đà tăng của các kim loại này. 

 

 

Kim loại công nghiệp

 

Kim loại công nghiệp đồng loạt giảm

Giá đồng kỳ hạn 3 tháng trên Sàn giao dịch kim loại London (LME) đã giảm hơn 13% trong năm 2022, là năm giảm đầu tiên kể từ năm 2018 do lo ngại về nhu cầu do số ca nhiễm gia tăng ở Trung Quốc (nước tiêu dùng hàng đầu thế giới), tăng trưởng toàn cầu chậm lại và lượng hàng tồn kho tăng.Phiên giao dịch kêt thúc năm 2022, giá đồng giao sau 3 tháng trên Sàn giao dịch kim loại Luân Đôn (LME) đã giảm 0,5% xuống 8.375 USD/tấn. Cùng với giá đồng, trong năm 2022, giá nhôm giảm khoảng 15%, mặc dù cả hai kim loại đều đạt mức cao kỷ lục vào tháng 3/2022.

Niken, kim loại vượt trội hơn có mức tăng 45%, mức tăng lớn nhất kể từ năm 2010, một phần do thiếu kim loại có thể được giao theo phiếu LME và một phần do sự biến động của khối lượng và tính thanh khoản thấp sau tháng 3.

Giá nickel đã tăng dựng đứng từ hơn 50.000 USD lên 100.000 USD, chỉ trong 18 phút ngày 8/3, đẩy thị trường kim loại vào cảnh hỗn loạn nghiêm trọng nhất gần bốn thập kỷ.

Bình thường, trong các phiên giao dịch, giá nickel thường chỉ biến động vài trăm USD mỗi tấn. Trong gần thập kỷ, giá bán kim loại này chỉ trong biên độ 10.000-20.000 USD mỗi tấn.

Với những người giao dịch trên thị trường hàng hóa, giá tăng không phải lúc nào cũng là tin tốt. Những nhà khai thác, thương nhân và các công ty sản xuất thường sử dụng thị trường hàng hóa để bán khống, đặt cược vào khả năng giá giảm như một cách để cân bằng rủi ro. Và khi giá hàng hóa biến động mạnh theo hướng ngược lại, họ có thể bị ảnh hưởng bởi các lệnh call margin quy mô lớn để đảm bảo tỷ lệ an toàn của giao dịch.

Nếu tính kể từ khi đạt mức cao kỷ lục vào tháng 3/2022 do lo ngại về sự gián đoạn nguồn cung hàng hóa từ Nga, đồng đã giảm mạnh 22%, nhôm 41% và kẽm 39%. Niken và thiếc lần lượt giảm 50% và 70%. Chì, kim loại sản xuất pin, được duy trì vững giá nhờ nguồn cung khan hiếm, hàng tồn kho thấp và được đưa vào chỉ số hàng hóa từ tháng Giêng, đã hoạt động tốt hơn, chỉ giảm 15% kể từ tháng Ba.

Lạm phát tăng vọt, phong tỏa do COVID-19 ở nước tiêu dùng hàng đầu Trung Quốc và lãi suất tăng mạnh là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của nền kinh tế và làm giảm tăng trưởng nhu cầu đối với các kim loại công nghiệp như đồng, được sử dụng trong ngành điện và xây dựng.

Năm2023, việc Trung Quốc nới lỏng chính sách Zero Covid và cam kết tăng cường hỗ trợ cho lĩnh vực bất động sản sẽ giúp hỗ trợ giá kim loại đen và kim loại màu. Các nhà phân tích của Citi dự báo giá niken và kẽm sẽ giảm trong vòng 6 đến 12 tháng tới do nguồn cung tăng mạnh, trong khi dự báo giá quặng sắt và nhôm sẽ tăng.

Các thị trường kim loại công nghiệp hy vọng nhu cầu cải thiện và giá tăng có thể phải đợi thêm vài tháng nữa với những cơn gió ngược của tăng trưởng chậm có thể sẽ chi phối bối cảnh kinh tế trong một thời gian.

Sau khi giảm gần 2% trong năm 2022, giá kim loại được dự báo giảm trên 15% vào năm 2023, trước khi ổn định vào năm 2024. Xu hướng giảm giá phản ánh triển vọng kinh tế yếu ớt trên toàn cầu và nhu cầu tại Trung Quốc giảm nhẹ. Trái lại, chi phí luyện kim sẽ tăng cao, nếu giá năng lượng tăng cao hơn kỳ vọng. Tuy nhiên, nhu cầu về kim loại được dự báo sẽ tăng trong dài hạn, khi các nước tăng cường nỗ lực chuyển đổi năng lượng và cần nhiều loại kim loại mới.

Các nhà phân tích của Citi cho biết: “Chúng tôi dự đoán đồng sẽ giảm xuống còn 7.800 USD/tấn trong ba tháng tới do việc bổ sung hàng hóa thành phẩm kết thúc, sản lượng luyện kim cao hơn, nhu cầu suy yếu theo mùa và tiêu dùng cuối toàn cầu yếu khiến thị trường rơi vào tình trạng dư thừa”.

Theo các chuyên gia, nhu cầu về đồng trên toàn cầu được ước tính sẽ tăng khoảng 2-3% trong năm 2022, lên mức khoảng 26 triệu tấn so với mức tăng trưởng 4 – 5% của năm 2021. Nhu cầu nhôm dự kiến sẽ tăng ít hơn với mức 2% lên khoảng 71 triệu so với mức tăng 8% vào năm 2021.

Tiêu thụ kẽm được dự báo sẽ tăng ở mức 1 – 2% trong năm 2022 so với mức 6 – 7% vào năm 2021. Đối với niken, nhu cầu được dự báo sẽ tăng khoảng 5% trong năm nay so với mức 15% của năm ngoái.

Về nguồn cung trong năm 2022, các chuyên gia kinh tế cho rằng nguồn cung đồng tăng từ 3 – 5% do sản lượng tăng tại các mỏ ở khu vực Mỹ Latinh, châu Phi và các nơi khác. Trong khi nguồn cung nhôm được dự báo sẽ tăng 3,5% với phần lớn mức tăng sẽ đến từ thị trường Trung Quốc. 

Sắt thép

Giá quặng sắt giao ngay của Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ khoảng 2/3 nguồn cung toàn cầu - đã giảm khoảng 5% trong năm nay, xuống gần 115 USD/tấn 

 

 

Khi năm 2022 khép lại, thị trường quặng sắt và thép vẫn tiếp tục bị bủa vây giữa muôn trùng khó khăn. Giá cả của rất nhiều loại hàng hoá đã phục hồi trở lại, duy chỉ có thị trường quặng sắt vẫn đang chật vật tìm điểm cân bằng.

 

Giá thép quốc tế biến động mạnh trong năm 2022. Trong nửa đầu năm giá tăng cao, do bị ảnh hưởng từ cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine ngày càng mở rộng lên khắp toàn cầu khiến lạm phát tăng tốc ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển, chính sách thắt chặt tiền tệ của các nước trên thế giới. Đồng thời, giá dầu và các nguyên vật liệu, giá vận chuyển tăng cao đã đẩy giá thép trên thị trường thế giới tăng lên chóng mặt, gây ảnh hưởng nặng nề tới các dự án sản xuất và xây dựng trên toàn cầu. Tuy nhiên, trong nửa cuối 2022, giá thép quay đầu giảm do tình trạng đứt gãy nguồn cung được giải quyết, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và thành phẩm thép giảm. Trong đó giá phôi thép và nguyên liệu đầu vào trên các sàn giao dịch quốc tế xu hướng giảm đi xuống. Đồng thời, giá khí đốt tăng đang có tác động trực tiếp tới hoạt động của các nhà máy thép ở châu Âu cũng như sản lượng thép. Một loại nhà máy ở khu vực này đã phải phải đưa ra quyết định là ngừng sản xuất thép, do không thể trang trải chi phí năng lượng để vận hành nhà máy. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn bởi chính sách zero Covid, lĩnh vực xây dựng chậm lại và các biện pháp về kiểm dịch đang tác động mạnh lên các nhà máy khiến cho giá thép đi xuống.

Không chỉ tại Trung Quốc, triển vọng tiêu thụ thép ở các khu vực khác trên thế giới cũng không mấy sáng sủa hơn. Thị trường nhà ở tại Mỹ cũng đối mặt với nhiều khó khăn khi lãi suất cho vay mua nhà đã tăng vọt lên mức cao nhất trong 16 năm. Lượng nhà được khởi công xây dựng trong tháng 9 giảm 8,1% xuống còn 1,43 triệu căn, còn doanh số nhà chờ bán cũng lao dốc 10,2%.

Kinh doanh sắt thép là một ngành có tính chu kỳ cao, nên việc dự đoán sớm các yếu tố nguồn cung và tiêu thụ rất cần thiết với cả các nhà đầu tư và các doanh nghiệp sản xuất. Theo Báo cáo Triển vọng Thị trường Quặng sắt của Fitch Solution, sản lượng quặng sắt toàn cầu sẽ tăng trưởng trung bình 2,7% trong giai đoạn 2022 – 2026, với nguồn cung chủ yếu được thúc đẩy bởi Úc và Brazil, hai quốc gia có sản lượng quặng sắt lớn nhất thế giới. Các công ty khai thác lớn như Vale (Brazil), hay BPH và Rio Tinto (Úc) đều có kế hoạch mở rộng và tăng cường sản xuất. Điều này sẽ trực tiếp góp phần nâng sản lượng quặng sắt hàng năm thêm 361,7 triệu tấn vào năm 2026 so với mức năm 2022.

Tại Trung Quốc, sản lượng quặng sắt được kỳ vọng sẽ tăng trở lại trong vòng 3 đến 4 năm tới khi nước này nỗ lực tăng khả năng tự cung tự cấp và giảm nhập khẩu từ Úc, vốn đã hạn chế đáng kể trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, việc giá quặng sắt giảm hiện nay sẽ đẩy các hoạt động sản xuất vào tình trạng đình trệ do nhu cầu thép suy yếu ở Trung Quốc, Fitch Solution cũng dự báo tăng trưởng sản xuất hàng năm sẽ ở mức trung bình 0,04% trong giai đoạn 2026 – 2031.

Nguồn cung tăng trong khi nhu cầu chưa có dấu hiệu cải thiện sẽ tiếp tục đè nặng lên giá quặng sắt và cả giá thép. Hiện nay, nhà đầu tư và cả các doanh nghiệp sẽ cần chờ đợi sự hồi phục từ ngành xây dựng và thị trường bất động sản trên toàn cầu. Tuy nhiên, việc này lại phụ thuộc vào những yếu tố vĩ mô như các chính sách tiền tệ và cả các chính sách kích cầu của Chính phủ.

Việc Trung Quốc nới lỏng chính sách Zero Covid và cam kết tăng cường hỗ trợ cho lĩnh vực bất động sản đã giúp hỗ trợ giá mặt hàng này trong tháng 12. Tuy nhiên, sự lạc quan đã bị giảm bớt do tỷ lệ nhiễm Covid gia tăng ở nước này và nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu gia tăng vào năm 2023 nếu các ngân hàng trung ương tiếp tục tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.

Dự báo nhu cầu thép được sẽ tăng 2,2% so với năm 2022 lên 1,88 tỷ tấn. Các biện pháp kích thích ở Trung Quốc được đưa ra vào năm 2022 có khả năng hỗ trợ nhu cầu thép tăng trưởng tích cực trong năm 2023. 

Dầu thô

Thị trường dầu thế giới kết thúc một năm thăng trầm với đà tăng

Giá dầu biến động mạnh trong năm 2022, tăng mạnh nhờ nguồn cung khan hiếm trong bối cảnh cuộc xung đột ở Ukraine, sau đó “trượt dốc” do nhu cầu suy yếu từ Trung Quốc - quốc gia nhập khẩu dầu thô hàng đầu thế giới và những lo ngại về suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, khép lại phiên giao dịch cuối cùng của năm 2022 với mức tăng và đánh dấu hai năm đi lên liên tiếp.

Giá dầu đã tăng vọt vào tháng Ba năm nay, khi cuộc xung đột Nga – Ukraine nổ ra làm giảm nguồn cung dầu thô toàn cầu, giá chạm đỉnh trong phiên giao dịch ngày 07/3/2022 với giá dầu Brent đạt 139,13 USD/thùng, mức cao nhất kể từ năm 2008, dầu thô Mỹ (WTI) đạt 130,50 USD/thùng, và giá xăng RON 92 đạt mức 143,19 USD/thùng. Trong 3 tháng đầu năm giá xăng dầu đã tăng khoảng 60%. Sau đó giá giảm dần trở lại đến cuối năm và gần như xóa sạch mọi sự tích lũy từ đầu năm 2022 đến nay. Giá dầu đã nhanh chóng “hạ nhiệt” vào nửa cuối năm khi các ngân hàng trung ương lớn nâng lãi suất và lo ngại về suy thoái kinh tế. lãi suất của các ngân hàng đồng loạt tăng để chống lạm phát, khiến đồng USD mạnh lên. Điều đó làm cho các hàng hoá định giá bằng đồng USD như dầu thô trở nên đắt đỏ hơn đối với người nắm giữ những đồng tiền khác.

Trong cả năm 2022, giá dầu Brent tăng 10%, sau khi chứng kiến mức tăng 50% trong năm 2021. Dầu WTI tiến gần 7% trong năm 2022, sau khi tăng mạnh 55% trong năm 2021. Cả hai loại dầu chủ chốt này đều giảm mạnh trong năm 2020, khi đại dịch COVID-19 làm giảm nhu cầu nhiên liệu.

Trong năm 2023, giới đầu tư năng lượng được dự báo sẽ tiếp tục giữ tâm lý thận trọng, cảnh giác với các đợt nâng lãi suất và khả năng suy thoái kinh tế. Mặc dù Trung Quốc nới lỏng các hạn chế phòng chống COVID-19, nhưng sự gia tăng số ca nhiễm đã gây ra tác động tiêu cực đối với thị trường dầu mỏ do sự không chắc chắn về khả năng phục hồi kinh tế của nước này, từ đó khiến triển vọng nhu cầu dầu mỏ thế giới trở nên thiếu chắc chắn.

Một cuộc thăm dò 30 chuyên gia kinh tế và nhà phân tích dự báo dầu Brent đạt trung bình 89,37 USD/thùng trong năm 2023, giảm 4,6% so với cuộc khảo sát hồi tháng 11/2022. Dầu WTI được dự báo trung bình đạt mức 84,84 USD/thùng trong năm 2023, cũng giảm so với dự báo trước đó.

Tổ chức Năng lượng Quốc tế (EIA) dự báo lượng dầu trong các kho dự trữ của thế giới trong nửa đầu năm 2023 sẽ giảm 200.000 thùng/ngày, trước khi tăng gần 700.000 thùng/ngày trong nửa cuối năm 2023. Giá dầu Brent dự kiến trung bình ở mức 92 USD/thùng trong năm 2023. 

Khí đốt

Nguồn cung bấp bênh

Thị trường khí đốt toàn cầu đã bị xáo trộn trong năm 2022 sau khi Nga cắt nguồn cung cấp cho châu Âu và một đường ống dẫn chính bị hư hại trong cuộc chiến ở Ukraine, khiến các nước châu Âu phải nhập khẩu khối lượng kỷ lục để đảm bảo nguồn cung cấp cho mùa đông.

Nhu cầu bổ sung đối với khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) trong bối cảnh nguồn cung cấp khí đốt qua đường ống bị thắt chặt hơn đã gây áp lực lớn lên thị trường toàn cầu, gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng đẩy giá khí đốt lên mức cao lịch sử.

Hợp đồng tương lai giá than ở Newcastle đã tăng gần 140% vào năm 2022, mức tăng lớn nhất kể từ năm 2008. Hợp đồng tương lai giá khí đốt của Mỹ và giá khí đốt bán buôn của Hà Lan đã tăng hơn 20%, tăng năm thứ ba liên tiếp.

Bởi vì châu Âu sẽ tiếp tục nhập khẩu LNG để xây dựng lại kho dự trữ khí đốt vào năm tới sau mùa đông, giá khí đốt dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong bối cảnh nguồn cung mới còn hạn chế.

Ngoài ra, việc dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát đại dịch chặt chẽ ở Trung Quốc - nước nhập khẩu LNG lớn thứ hai thế giới - cũng có thể thúc đẩy phục hồi kinh tế và tiêu thụ LNG nhiều hơn vào năm tới.

Tuy nhiên, việc châu Âu áp trần giá khí đốt bắt đầu từ tháng 2 có thể giúp kiềm chế thị trường và giảm bớt sự biến động trong năm nay. 

 

 

Phân bón

 

Giá phân bón thế giới giảm trong những tháng cuối năm 2022

Cắt đà tăng nóng, giá phân bón nửa sau năm 2022 khó tăng mạnh do nhu cầu tiêu thụ của thế giới yếu, đặc biệt là ure có thể giảm sang năm 2023. Tuy nhiên, nhìn chung giá phần lớn các loại vẫn tăng so với một năm trước đó, ngoại trừ phân bón 10-34-0 giảm 1%. Cụ thể, Urea tăng 12%, UAN28 tăng 1%, UAN32 và và anhydrous tăng 3%, MAP tăng 4%, kali tăng 5%, DAP tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trước đó, 6 tháng đầu năm 2022, giá phân bón được hỗ trợ bởi các yếu tố chính trị và xu hướng hạn chế xuất khẩu cho dù nhu cầu yếu. Nga và Trung Quốc tiếp tục chính sách hạn chế xuất khẩu mặt hàng này đến hết năm 2022.

Lệnh hạn chế xuất khẩu phân bón của Nga và Trung Quốc đẩy giá mặt hàng này lên cao trong bối cảnh lo ngại nguồn cung bị gián đoạn do cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Với vị thế lớn trong bản đồ phân bón thế giới, các lệnh cấm vận lên Nga khiến giá tăng trong quý I năm 2022 trước khi hạ nhiệt lại trong quý II. Đà tăng giá chủ yếu đến từ các sản phẩm ure, DAP, kali.

Tương tự, Trung Quốc cũng duy trì chính sách hạn chế xuất khẩu mặt hàng này để đảm bảo nhu cầu trong nước.

Bên cạnh đó, giá khí tăng mạnh ở châu Âu cũng góp phần đẩy chi phí khí sản xuất phân bón ở khu vực dẫn đến một số nhà máy đóng cửa và làm thiếu hụt nguồn cung.

Triển vọng thị trường phân bón thế giới năm 2023 sẽ ổn định hơn so với năm 2022. Giá phân bón có nhiều khả năng tiếp tục xu hướng giảm giá do Trung Quốc mở cửa trở lại sẽ cung cấp một lượng cung lớn ra thị trường. Hơn nữa, Nga (nước xuất khẩu lớn nhất với tỷ trọng khoảng 15% tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu) sẽ mở kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm 2023. 

 

 

Cao su

 

Tính chung trong năm 2022, giá cao su trên sàn Osaka giảm khoảng 8,4%

Giá cao su kỳ hạn trên thị trường Nhật Bản ghi nhận mức giảm hàng năm đầu tiên kể từ năm 2018 do lo ngại về suy thoái kinh tế toàn cầu và sự sụt giảm nhu cầu từ Trung Quốc – nước nhập khẩu cao su hàng đầu thế giới.

Hợp đồng cao su giao tháng 6 của Sở giao dịch Osaka kết thúc phiên 30/12 giảm 1 JPY, tương đương 0,5%, xuống 218,0 JPY (1,64 USD)/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 5 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 20 CNY xuống còn 12.695 CNY (1.826 USD)/tấn trong phiên 30/12.

Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 1 trên nền tảng SICOM của Sở giao dịch Singapore kết thúc phiên này tăng 0,2% lên 129,0 US cent/kg.

“Trong thời gian tới, các nhà giao dịch sẽ xem liệu các dấu hiệu suy thoái có lấn át tác động của việc Trung Quốc mở cửa trở lại hay không,” Farah Miller, giám đốc điều hành của Helixtap Technologies, một công ty dữ liệu độc lập tập trung vào cao su cho biết.

Tâm lý của các nhà giao dịch cao su đã bị xáo trộn trong những tuần cuối năm 2022 sau khi Trung Quốc nới lỏng các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt chống Covid-19 nhưng lại xuất hiện làn sóng lây nhiễm mới làm hạn chế hoạt động công nghiệp và tiêu dùng. 

Bông

Giá giảm mạnh nhất kể từ năm 2014

Giá bông ICE kỳ hạn tương lai ổn định trong phiên cuối năm 2022, được hỗ trợ bởi đồng đô la yếu hơn và dữ liệu doanh số xuất khẩu hàng tuần tích cực. Tuy nhiên, giá bông trong năm 2022 đã giảm mạnh nhất kể từ năm 2014 trong năm mà sợi tự nhiên này giao dịch biến động nhất trong hơn một thập kỷ.

Hợp đồng bông kỳ hạn tháng 3 tăng 0,88 cent, tương đương 1,1%, lên 83,52 cent/lb vào ngày 30/12, sau khi tăng tới 2,4% lên 84,64 cent/lb trong phiên tăng mạnh nhất trong 7 năm.

Tuy nhiên, hợp đồng giao sau 1 tháng kết thúc năm 2022 với mức giảm khoảng 26%, ghi nhận ba quý giảm liên tiếp lần đầu tiên sau tám năm.

Giá năm 2022 được giao dịch trong phạm vi rộng từ 158,02 cent đến 70,21 cent/lb, ghi nhận mức cao nhất trong 11 năm vào tháng Năm.

Giá bông giảm trong năm 2022 do đồng bạc xanh tăng giá, lo ngại về tình trạng dư cung, lo ngại nhu cầu suy giảm và các hạn chế do COVID-19 tại nhà sản xuất hàng may mặc lớn nhất thế giới Trung Quốc. 

Nông sản

Trong năm 2022, giá ngô đã tăng gần 14,4%, lúa mì cuối năm gần như đi ngang so với đầu năm mặc dù trong năm biến động rất mạnh, trong khi đó đậu tương tăng 13,8%.

Giá hợp đồng tương lai lúa mì trên Sàn giao dịch Chicago đã tăng lên mức cao kỷ lục vào tháng 3 do xung đột Nga-Ukraine làm giảm nguồn cung từ nhà xuất khẩu ngũ cốc chính Ukraine sang thị trường toàn cầu, mặc dù trước đó giá lúa mì đã tăng cao hơn do thời tiết bất lợi và các hạn chế liên quan đến Covid-19.

Giá ngô và đậu tương cũng đạt mức cao nhất trong một thập kỷ, trong khi giá dầu cọ thô của Malaysia tăng lên mức kỷ lục. Giá đậu tương và ngô kết thúc năm tăng khoảng 14% do hạn hán nghiêm trọng ở Argentina làm dấy lên lo ngại về mùa màng của Nam Mỹ.

Dự báo vào đầu trong năm 2023, giá ngô trên thị trường thế giới sẽ giữ ở mức cao được sự hỗ trợ bởi dự báo sản lượng giảm tại các nước sản xuất lớn. Nguồn cung ngô cho nửa đầu năm 2023 có thể bị khan hiếm, khiến người mua thức ăn chăn nuôi phải tìm kiếm các lựa chọn thay thế. Xuất khẩu ngô vụ cũ của Brazil dự kiến sẽ giảm khi thị trường tiếp cận quý 1/2023, nhường chỗ cho xuất khẩu đậu tương. Mực nước trên sông Mississippi của Mỹ đang ở mức thấp lịch sử, hỗ trợ thị trường ngô, trong khi việc thiếu mưa ở Achentina đã khiến kế hoạch trồng ngô bị trì hoãn.

Dự báo giá lúa mì sẽ tương đối ổn định trong thời gian tới nhờ hành lang ngũ cốc đã mở lại nên lúa mì Ukraine đã được chuyển đến các nước EU thiếu thức ăn chăn nuôi như Tây Ban Nha và Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Indonesia, Bắc Phi và nhiều thị trường nhạy cảm về giá khác. Mặc dù nguồn cung từ Achentina và Ukraine không chắc chắn nhưng Úc đang thu hoạch một vụ mùa kỷ lục, dự báo tăng 1% so với kỷ lục năm ngoái có thể cung cấp cho nhu cầu ngắn hạn của châu Á. Ấn Độ có thể đạt sản lượng lúa mì bội thu trong niên vụ 2022/2023 do tăng diện tích trồng trọt. Nhưng chính phủ vẫn chưa dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu với giá trong nước tăng mạnh và nguồn cung vẫn bị thắt chặt.

Tuy nhiên, còn nhiều rủi ro tác động đến dự báo giá cả: Rối loạn xuất khẩu từ Ukraine hoặc Nga có thể gây gián đoạn nguồn cung toàn cầu; giá năng lượng tiếp tục tăng hay rối loạn về cung ứng những mặt hàng này có thể tăng thêm áp lực lên giá ngũ cốc và thực phẩm; thời tiết bất lợi có thể gây thiệt hại mùa màng, năm 2023 có thể là năm thứ ba liên tiếp xảy hiện tượng thời tiết La Nina, ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng nông nghiệp tại Nam Mỹ và Cộng hòa Nam Phi.

Cuộc chiến tại Ukraine đã cản trở các nỗ lực giảm nghèo, tổng số người nghèo trên thế giới sẽ vượt con số 200 triệu trong năm nay, tập trung tại những nước diễn ra xung đột và quốc gia nghèo, đặc biệt là tại khu vực Cận Sahara châu Phi. 

 

 

Đường

 

Thời tiết khắc nghiệt khiến giá đường tăng năm thứ 4 liên tiếp

Giá đường trên sàn ICE giảm trong phiên cuối cùng của năm 2022, nhưng tính chung cả năm tăng năm thứ 4 liên tiếp với cả đường thô và đường trắng.

Cụ thể, giá đường thô kỳ hạn tháng 3 phiên 30/12 giảm 0,25 cent, tương đương 1,2%, ở mức 20,04 cent/lb. Giá đường thô kết thúc với mức tăng hàng năm là 6,1% được hỗ trợ bởi tình trạng khan hiếm nguồn cung dự kiến sẽ tiếp tục kéo dài đến quý 1 năm 2023.

Giá đường thô kỳ hạn đã tăng trong bốn năm qua, với tổng mức tăng giá là 55%.

Giá đường trắng kỳ hạn tháng 3 trên sàn London giảm 7,40 USD, tương đương 1,3%, trong phiên 30/12 xuống 554,40 USD/tấn. Giá đường trắng đạt mức tăng hàng năm là 11,5%, cũng là năm tăng thứ tư liên tiếp của mặt hàng này, với mức tăng giá tích lũy 54,8% trong giai đoạn đó.

"Tôi cho rằng lý do chính cho sự tăng giá (đường) trong bốn năm qua, trên cơ sở chung, ngoài cuộc xung đột Ukraine năm 2022, là thời tiết. Cụ thể hơn, thời tiết khắc nghiệt", một thương nhân ở Mỹ cho biết.  

 

Giá hàng hóa thế giới năm 2022:

 


 

 

(TTGCVT tổng hợp)

 

 

 
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương(VITIC)
Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 93/GP-TTĐT cấp ngày 9/7/2015.
Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà Bộ Công thương, 655 Phạm văn Đồng, Quận Bắc Từ liêm, Hà nội . 
Điện thoại: (024) 39746023/39780280/39745193/  - Fax: (024) 39762593 
Email:ttgcvattu1989@gmail.com